Yến sào bổ dưỡng tới đâu?
Yến sào (còn được gọi là tổ yến, hải yến, yến thái, quan yến) là tổ của loài chim yến biển.
Có mấy loài yến thuộc họ vũ yến Apodidae cho tổ ăn được: Collocalia linchi Horsfi.; C. innominata Hume.; C. francia merguiensis Hart.; C. francica germaini Oustalet…Các loài chim yến sống ở hải đảo dọc biển, từ Quảng Bình đến Hà Tiên. Thân nhỏ, cánh dài nhọn, đuôi ngắn, mỏ cong. Lông đuôi và lông cánh có màu đen hay xám, bụng màu trắng. Chim yến to cỡ trên dưới 10g. Yến bay rất khoẻ, thường kiếm ăn trên mặt nước. Chim yến làm tổ trên các vách đá cheo leo hiểm trở và làm tổ bằng nước miếng của chúng.
Theo đông y, tổ yến có vị ngọt, tính bình, tác dụng vào các kinh phế và vị. Có tác dụng dưỡng âm, bổ phế, tiêu đàm, trừ ho định suyễn. Dùng trong các chứng ho hen, khái huyết, suy nhược cơ thể. Ngoài ra, tổ yến còn dùng để tiềm với táo tàu, hạt sen, hoài sơn, nhân sâm, đương quy, kỷ tử… làm thuốc bổ dưỡng cho người già yếu. Liều dùng 6 – 12g/ngày. Để làm thuốc hoặc làm món ăn, người ta ngâm tổ yến vào nước ấm trong hai giờ cho nở ra, nhặt bỏ tạp chất và lông chim nếu có, rồi rửa sạch, để ráo. Cho yến vào tiềm chung (chưng cách thuỷ) với gà ác, gà giò, bồ câu và gia vị hay các vị thuốc nói trên. Cũng có thể chưng với đường phèn để ăn.
Theo luận án tiến sĩ dược khoa tại đại học Dược khoa Sài Gòn năm 1972 của TS Huỳnh Hữu Tạo, có ba nhóm yến sào phân bố theo vùng địa lý: yến sào quanh vùng Cù Lao Chàm (Quảng Nam – Đà Nẵng). Yến sào quanh vùng Quy Nhơn và yến sào quanh vùng Nha Trang – Cam Ranh. Tuỳ theo tính chất và kích cỡ, tổ yến chia làm ba loại: quý hiếm nhất là yến huyết (tổ yến màu đỏ hay hơi đỏ, giá đắt vì hiếm gặp). Yến quan (là loại tổ yến tốt nhất, tổ to, trắng, mỗi tổ nặng từ 10 – 12g). Thứ nhì là yến thiên (tổ yến nhỏ hơn, màu xanh nhạt hay vàng nhạt). Thứ ba là yến địa (tổ yến nhỏ, xấu, màu xám hay lục nhạt).
Yến sào rất giàu chất khoáng, kể cả khoáng vi lượng (xem bảng). Thành phần chất đạm trong yến sào cũng rất cao: yến trắng Đà Nẵng (55%), yến huyết Đà Nẵng (54,4%), yến trắng Nha Trang (53,8 %), yến huyết Nha Trang (56,9%), yến trắng Quy Nhơn (54,4%), yến trắng Singapore (56,3%).
Nghiên cứu chi tiết hơn thành phần chất đạm, cho thấy yến sào không chứa các protein và axít alginic của rong tảo. Điều này chứng minh yến sào làm bằng nước miếng chim yến chứ không phải rong tảo. Yến sào cũng không chứa hồng cầu và các hem của huyết mà chứa rất nhiều sắt. Yến huyết vì vậy không phải do máu chim yến mà do thành phần sắt trong đá có màu đỏ của sườn núi tạo nên. Thành phần bột đường được nghiên cứu sâu cho thấy chứa nhiều galactose trong mucoprotein, không chứa các đường lên men, chứng tỏ tổ yến được làm hoàn toàn bằng nước miếng chim. Yến sào không chứa chất béo.
Tóm lại, chim yến dùng nước miếng để làm thành yến sào, có thành phần rất giàu chất đạm và khoáng chất, glucosamin thiên nhiên (là yếu tố cần thiết tạo nên sụn khớp) nên rất bổ dưỡng, dễ tiêu hoá hấp thụ.

http://yensaocungdinh.com/yensao/vi/...a-yen-sao.html
Yến sào: Cải lão hoàn đồng
[IMG]file:///C:/Users/QUANGT%7E1/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.jpg[/IMG]
Chim yến.
Yến sào là thực phẩm cao cấp ở vùng Á Đông, là một trong 8 món ăn nổi tiếng: yến sào, bào ngư, hải sâm, vây cá mập, đế chân voi, bàn tay gấu; nên các bữa tiệc ở cung đình không bao giờ thiếu món yến sào, thường được gọi là yến tiệc và đến nay yến sào luôn đứng đầu trong các món đại tiệc. Sở dĩ, yến sào được xếp vào hàng bát trân là vì công dụng đại bổ của nó.
Chim yến còn gọi là yến hàng, yến oa thái, yến hông xám, én biển (hải yến). Tên khoa học là Collocalia fuciphaga germani Oustalet., họ chim yến (Apodidae). Hải yến là loài chim nhỏ, sống thành từng đôi trong đàn lớn, làm tổ trên trần các vách đá cheo leo. Tổ của chúng được làm bằng nước dãi, hình tròn xoáy trôn ốc, có màu trắng xám, có khi có màu hồng đỏ, to bằng nửa quả trứng vịt. Người ta thường khai thác tổ yến để làm thực phẩm và làm thuốc. Tổ yến còn có tên yến sào, yến oa thái, yến sơ thái, tai yến.
Yến sào chứa 42,8 - 54,9% protein; nhiều glucose; các acid amin cần thiết khó thay thế: cystein, phenyllamin, tyrosin...; các vitamin B, C, E, PP; các muối natri, sắt, phosphor và các nguyên tố vi lượng. Một số nghiên cứu mới đây cho thấy: yến sào có tác dụng tăng cường khí lực, bổ sung sinh lực, có lợi cho phổi và thận, rất tốt cho da, tăng hấp thu các chất dinh dưỡng và kích thích sự phân chia các tế bào của hệ miễn dịch. Do đó, yến sào được cho là thuốc cải lão hoàn đồng, làm chậm quá trình lão hóa.
Theo Đông y, yến sào vị ngọt, tính bình, vào phế vị thận. Có tác dụng dưỡng âm nhuận táo, bổ trung ích khí, bổ thận sinh tinh, kiện tỳ dưỡng huyết. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, viêm khí phế quản, ho khan đàm dính, hen suyễn, khái huyết, thổ huyết, viêm dạ dày thực quản gây nôn, lỵ và sốt rét kéo dài, lao phổi, mạnh gân xương.
Cách chế biến: Ngâm yến sào trong nước sạch 3 - 4 giờ hoặc nước ấm trong 1 giờ cho các sợi dãi tả ra, vớt lên, nhặt sạch lông chim, rác rưởi và các chất bẩn khác. Thay nước và làm sạch nhiều lần, để ráo sẽ có sợi yến màu trắng lục nhạt, nhỏ và dai giống như sợi miến. Dùng các sợi yến này trong các thực đơn nấu, hầm.
[IMG]file:///C:/Users/QUANGT%7E1/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.jpg[/IMG]
Tổ yến (yến sào).
Một số món ăn - bài thuốc có dùng yến sào:
Yến thả: Yến sào 5g, hấp cách thuỷ, cho vào bát con, thêm thịt gà xé 30g, cho nước luộc gà nóng, thêm gia vị cho đủ độ mặn ngọt. Ăn trước bữa ăn.
Yến tần: Chim bồ câu đã làm sạch, cho yến sào, gạo nếp, đậu xanh, mộc nhĩ, nấm hương vào trong bụng chim. Hầm cách thuỷ cho nhừ, thêm gia vị. Ăn trong ngày. Yến sào 40g, thịt gà 200g, nấm hương 20g. Hầm trong 10 phút. Ăn trong ngày. Chữa cơ thể suy nhược.
Chè yến: Yến sào 5g, hấp cách thuỷ, cho vào bát con. Đường kính đun với nước sôi (lượng đủ ngọt), bắc ra để nguội, thêm lòng trắng trứng và bột mịn vỏ trứng. Đun sôi, lọc trong, đổ vào bát yến. Ăn khi còn ấm và sau bữa ăn.
Yến sào hấp đường phèn: Yến sào 5g, đường phèn 30g. Trước tiên đun tan đường phèn, vớt bỏ váng bã cho yến sào vào đun nhỏ lửa cho sôi là được. Dùng cho các trường hợp suy nhược, người già yếu, lao phổi, viêm khí phế quản, bệnh tâm phế mãn.
Yến sào kỷ tử: Yến sào 10g, kỷ tử 15g, đường kính 100 g. Yến sào ngâm rửa sạch, cho nước đun sôi cho nở ra, cho tất cả yến sào, kỷ tử và đường kính trong một xoong với lượng nước thích hợp, đun cách thuỷ 30 phút. Dùng cho các trường hợp viêm phế quản mạn, lao phổi, giãn phế quản.
Yến sào pha sữa bò: Yến sào 10g, ngâm nước cho mềm, đun cách thủy cho chín, cho thêm 250ml sữa bò, khuấy đều cho sôi. Dùng cho các trường hợp viêm dạ dày, viêm ruột có nôn ói, nấc cụt và các bệnh nội khoa có nôn ói.
Yến sào đỗ trọng hấp đường: Yến sào 4g, đỗ trọng 15g, đường kính 100g. Yến sào ngâm nước sôi cho mềm trước, tất cả cùng nấu trong 30 phút, khuấy lắc đều, lấy nước uống. Dùng cho thai phụ ho nấc, nôn ói; do có tác dụng an thai hoà vị, chỉ ẩu.
Yến sào bạch cập: Yến sào 12g, bạch cập 12g. Đun nhỏ lửa, hầm kỹ. Lọc lấy nước, thêm đường phèn, đun cho tan. Uống 2 lần trong ngày. Chữa ho ra máu.
Lưu ý: Người bị cảm mạo phong hàn, phế vị hư hàn, đàm thấp không dùng yến sào.
TS. Nguyễn Đức Quang